Thứ Tư, 19 tháng 5, 2010

5 bước cơ bản để khởi nghiệp trên thế giới ảo

Lý do? Ngay cả khi các nhà bán lẻ trực tuyến cảm nhận được khó khăn của một nền kinh tế khủng hoảng, họ vẫn hy vọng có được thị phần từ chính thiệt hại mà các nhà bán lẻ truyền thống phải gánh chịu trong suốt cơn suy thoái.

Vì vậy, tiếp cận thị trường trực tuyến là cách để có thể chống đỡ thêm trong suốt quá trình kinh tế đi chậm lại và là con đường để thu được nhiều hơn từ sự hồi phục của nền kinh tế sắp tới.

Đầu tiên, hãy nghe trước các tin xấu: Theo một nghiên cứu gần đây của Forrester trên 117 nhà bán lẻ trực tuyến thì hầu hết các dự báo tăng trưởng đều giảm vào năm tiếp theo, và hầu hết đều nhận thấy tình hình kinh tế suy thoái đã ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của họ. Và đây là những thông tin tốt: khoảng 80% những người trả lời cuộc khảo sát thừa nhận rằng bán hàng trực tuyến tốt hơn các phương pháp bán lẻ truyền thống trước việc chống đỡ lại những tác động của nền kinh tế suy thoái. Đó là lý do tại sao những nhà bán lẻ trực tuyến nên tiếp tục chiếm nhiều thị phần từ các đối thủ bán lẻ truyền thống.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tất cả hoạt động kinh doanh trực tuyến đều sẽ thành công. Và dưới đây là một vài bước cơ bản để một nhà kinh doanh trực tuyến của thể gây dựng vị thế của mình trên thị trường một các nhẹ nhàng hơn:

1. Nghiên cứu thị trường của bạn

Nghiên cứu thị trường sẽ giúp bạn xác định một vài cơ sở dữ liệu về thị trường tiềm năng của bạn, bao gồm quy mô, yếu tố khách hàng, tốc độ tăng trưởng và mức thu nhập. Các dữ liệu này có thể đóng vai trò như một bước khảo sát thực tế ban đầu trong tổng thể kế hoạch kinh doanh của bạn rất tốt, cũng như giúp bạn có được những dự đoán ban đầu về cơ hội kinh doanh của bạn. Ngoài những lợi ích có thể nhìn nhận được, một vài cuộc nghiên cứu thị trường cơ bạn sẽ giúp bạn phác họa trong đầu hình ảnh của những khách hàng chính. Hình ảnh này có thể được đúc rút từ nhiều sự lựa chọn khác nhau của các doanh nghiệp, từ các yếu tố thiết kế web thương mại điện tử, đến nơi quảng bá webstie của bạn hay lĩnh vực liên quan đến sản phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp.

2. Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh

Thị trường của bạn có thể trông rất hấp dẫn trong sự tách biệt nhưng tiếp theo, bạn cần đánh giá các đối thủ cạnh tranh. Những ai là người dẫn đầu thị trường, thế mạnh và những điểm yếu của họ? Những ai là người mới bước chân vào thị trường này và đã chiếm được bao nhiêu thị phần? Hiểu rõ về các đối thủ cạnh tranh sẽ giúp bạn xác định xem bạn phù hợp với phân khúc thị trường nào và điều này sẽ ảnh hưởng đến sản phẩm, cách quảng cáo và chiến lược giá cả của bạn.



Tạo một trang web kinh doanh trực tuyến có thiết kế hấp dẫn (Ảnh minh hoạ)

3. Trang bị cơ sở hạ tầng cho văn phòng

Đây là một chìa khóa. Đối với các doanh nghiệp mới bắt đầu, các vấn đề cơ sở hạ tầng cơ bản như nền tảng công nghệ và xử lý thẻ tín dụng đều nằm ngoài các lĩnh vực chuyên môn của họ, do đó, các giải pháp từ bên ngoài cần phải được xem xét.

4. Tạo một trang web kinh doanh trực tuyến có thiết kế hấp dẫn

Bây giờ bạn có thể nghĩ về việc gây dựng cửa hàng. Chính xác là điều bạn muốn nghĩ về thiết kế của trang web thương mại điện tử- nơi bạn sẽ kinh doanh. Giao diện và các hỗ trợ của trang web giúp bạn gây dựng một hình ảnh đến các khách hàng. Bạn là kiểu người hiện đại hay truyền thống? Bạn phức tạp hay đơn giản để tiếp xúc? Những quan điểm khác nhau sẽ cho những hình ảnh khác khác nhưng có hai nguyên tắc phổ biến cho thiết kế của một trang web thương mại điện tử: đừng nhìn nhận một cách thiếu chuyên nghiệp và đừng khiến nó trở nên khó khăn cho những ai ghé qua gian hàng của bạn khó thực hiện một giao dịch.

5. Sử dụng những công cụ tìm kiếm tối ưu (SEO) để quảng bá website của bạn

Một nhà kinh doanh trực tuyến sẽ tập trung vào các chiến lược quảng bá để giành được những khách hàng trên mạng. Một số hình thức quảng cáo bạn cần biết đến như công cụ tìm kiếm tối ưu (SEO) và pay-per-click (PPC) (trả tiền theo nhấp chuột). Phương pháp SEO giúp liên kết sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn với hoạt động tìm kiếm trên Internet trong những chủ đề có liên quan. Khi chọn quảng cáo kiểu PPC, bạn chỉ phải trả một khoản tiền rất nhỏ cho mỗi khách hàng tiềm năng viếng thăm trang web của bạn và cho các mẩu quảng cáo của bạn được hiển thị trên các bộ máy tìm kiếm thông tin (search engines). Internet vẫn còn là một phương tiện tương đối mới với các doanh nghiệp còn các phương tiện truyền thông và hành vi tiêu dùng của khách hàng thì thay đổi rất nhanh chóng, may mắn là hiện đã có các chuyên viên có thể giúp bạn đứng vững trên thị trường với các chiến lược tiếp thị qua Internet.

Lời kết:

Nói chung, có hai nguyên tắc chủ yếu để áp dụng khi bắt đầu việc kinh doanh trực tuyến:

Thứ nhất, kế hoạch kinh doanh của bạn là kết quả của một sự kết hợp giữa một phương thức kinh doanh truyền thống và các đặc trưng riêng của phương tiện truyền thông trực tuyến.

Thứ hai, bạn phải xác định các công việc mà công ty của bạn có thể thu thêm lãi, cũng như xác định các phần việc nằm ngoài chuyên môn của bạn để liên hệ với các đối tác bên ngoài.

Áp dụng các nguyên tắc từng bước một như trên, chắc chắn việc kinh doanh trực tuyến của bạn sẽ thành công ngay từ khi bắt đầu.

Thứ Ba, 23 tháng 3, 2010

Tối ưu SQL Server, Tối ưu cho ứng dụng của bạn

Sử dụng stored procedures thay vì dùng các câu truy vấn (query) dạng ANSI

Có thể giảm lượng băng thông bởi vì máy khách (client) chỉ gửi đến máy chủ (server) tên của stored procedure (có thể có một vài tham số) thay vì gửi một câu truy vấn (query) dài và nặng nề. Stored procedures có thể thường được sử dụng để tăng tính bảo mật và cũng có thể che dấu những đối tượng dữ liệu bên dưới. Ví dụ, bạn có thể cấp quyền cho người sử dụng thực thi stored procedure để làm việc trong một tập các cột hoặc dữ liệu được hạn chế nào đó.



Thiết kế ứng dụng chạy các câu truy vấn (query) bất đồng bộ

Có thể gia tăng việc thực thi cho ứng dụng của bạn bởi vì một câu truy vấn (query) sẽ không phải chờ trước khi chạy.



Xem xét việc sử dụng Microsoft Transaction Server (MTS) cho việc sử dụng đối tượng

Có thể tăng hiệu suất cho ứng dụng của bạn bởi vì MTS cho phép sử dụng các đối tượng COM.



Nếu hầu hết người sử dụng đều có các máy tính hiện đại (‘fat’ clients), xem xét việc thiết kế ứng dụng để dự trữ (cache) dữ liệu ở máy của người sử dụng.

Bằng cách này, bạn có thể làm giảm việc nạp (load) SQL Server của bạn khi người sử dụng cần truy xuất dữ liệu mà sẽ sử dụng nguồn tài nguyên trên máy khách mà không cần nguồn tài nguyên của SQL Server.



Xem xét ích lợi của việc thiết kế ứng dụng với mô hình nhiều tầng (n-tier)

Việc sử dụng mô hình ứng dụng nhiều tầng (n-tier), có thể làm tăng việc thực thi và sự linh hoạt cho ứng dụng.



Thử giới hạn các tập kết quả (result sets) bằng việc sử dụng mệnh đề WHERE trong các câu SELECT.

Điều này có thể cho các kết quả với lợi ích thực thi tốt bởi vì SQL Server sẽ chỉ trả về cho máy khách (client) những dòng thoả điều kiện, mà không phải là tất cả các dòng trong bảng (table). Điều này làm giảm băng thông mạng và làm tăng hiệu suất tổng thể của câu truy vấn (query).



Thử giới hạn các tập kết quả (result sets) chỉ với các cột (columns) cần thiết từ bảng (table), mà không nên là tất cả các cột (columns) của bảng (table)

Điều này có thể cho các kết quả với lợi ích thực thi tốt bởi vì SQL Server sẽ chỉ trả về cho máy khách (client) những cột (columns) cần thiết, mà không phải là tất cả các cột (columns) của bảng (table). Điều này làm giảm băng thông mạng và làm tăng hiệu suất tổng thể của câu truy vấn (query).



Thử giới hạn các tập kết quả (result sets) bằng cách sử dụng các câu SELECT với TOP

Điều này có thể làm tăng hiệu suất của ứng dụng bởi vì tập kết quả (result set) được trả về sẽ nhỏ hơn. Điều này cũng có thể giảm băng thông giữa máy chủ (server) và các máy khách (clients).



Sử dụng các con trỏ (cursors) SQL Server để cho phép ứng dụng của bạn lấy một tập dữ liệu nhỏ của các dòng (rows) thay vì lấy tất cả các dòng của bảng (table)

Các con trỏ (cursors) SQL Server cho phép ứng dụng lấy một nhóm bất kỳ các dòng từ tập kết quả (result set), bao gồm n các dòng (n rows) kế tiếp, n các dòng (n rows) phía trước, hoặc n các dòng (n rows) bắt đầu từ một dòng nhất định trong tập kết quả (result set). Việc sử dụng các con trỏ (cursors) SQL Server có thể làm giảm băng thông mạng bởi vì tập dữ liệu được trả về sẽ nhỏ hơn.



Sử dụng ADO hoặc OLE DB cho việc truy xuất dữ liệu từ các ứng dụng cần hiệu suất cao.

Điều này có thể gia tăng hiệu suất của ứng dụng so với việc sử dụng DAO hoặc ODBC. OLE DB là một COM API cấp thấp (low-level) cho việc truy xuất dữ liệu và ADO là một giao diện cấp ứng dụng (application-level) mà sử dụng OLE DB. Microsoft đề nghị sử dụng OLE DB cho các công cụ phát triển, ứng dụng, hoặc các thành phần (components) mà cần hiệu suất cao và sử dụng ADO cho các chương trình với mục đích thông thường trong các ứng dụng thương mại (Kế toán, Quản lý nguồn nhân lực, và Quản lý khách hàng).



Khi bạn kết nối đến SQL Server, nên sử dụng “Microsoft OLE DB Provider for SQL Server” thay vì “Microsoft ODBC Driver for SQL Server”.

Bởi vì OLE DB nhanh hơn ODBC, bạn nên sử dụng OLE DB nếu có thể.



Thiết lập thời hạn khóa (lock time-out) để các câu truy vấn (queries) được sử dụng trong ứng dụng của bạn sẽ không rơi vào trạng thái mập mờ.

Bạn có thể sử dụng lệnh SET LOCK_TIMEOUT để cho phép một ứng dụng thiết lập một khoảng thời gian lớn nhất mà một câu lệnh thực hiện với một nguồn tài nguyên được cấp. Khi thiết lập LOCK_TIMEOUT bị vượt quá, câu lệnh đang thực hiện sẽ tự động bị hủy, và xuất hiện thông báo lỗi số 1222 “Lock request time-out period exceeded”. Ứng dụng của bạn nên có khả năng bắt được thông báo lỗi 1222.



Tránh việc sử dụng cả hai giao dịch OLTP và OLAP trong cùng một cơ sở dữ liệu (database).

Bởi vì các giao dịch OLTP là tối ưu cho việc quản lý dữ liệu thường bị thay đổi và các giao dịch OLAP là tối ưu cho các câu truy vấn (queries) dữ liệu mà không thay đổi dữ liệu. Cố gắng loại bỏ việc sử dụng các giao dịch OLTP và OLAP trong cơ sở dữ liệu (database).



Cố gắng tránh sử dụng phương thức Refresh khi bạn gọi stored procedures từ đối tượng ADO Command.

Điều này làm tăng hiệu suất cho ứng dụng của bạn bởi vì khi sử dụng phương thức Refresh sẽ làm tăng thêm băng thông mạng. Bạn nên nghĩ đến việc tạo stored procedure với các tham số khi sử dụng mã lệnh ADO, thay vì sử dụng phương thức Refresh để nhận biết các tham số của một stored procedure.



Tránh việc tạo các giao dịch khi sử dụng các phương thức của ADO.
Nên tạo các giao dịch bên trong một stored procedure với SQL Server. Bằng cách này, bạn có thể giảm được băng thông mạng và làm tăng hiệu suất toàn diện cho ứng dụng.

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2009

Resize a SQL Server transaction log

This is sample for resize a SQL Server transaction log.

USE AdventureWorks;
GO
-- Truncate the log by changing the database recovery model to SIMPLE.01 ALTER DATABASE AdventureWorks
02 SET RECOVERY SIMPLE;
03 GO
04
05 -- Shrink the truncated log file to 1 MB.
06 DBCC SHRINKFILE (AdventureWorks_Log, 1);
07 GO
08
09 -- Reset the database recovery model.
10 ALTER DATABASE AdventureWorks
11 SET RECOVERY FULL;
12 GO

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2009

6 website giúp kiểm tra trạng thái YM

6 trang web cho phép bạn có thể kiểm tra trực tuyến trạng thái thực của một nick Yahoo Messenger là đang online, offline hay invisible một cách nhanh chóng và chính xác.

http://persiangap.com/

http://yahoo.from-magic.com/

http://www.invisible-scanner.com/

http://www.yahoo-detect.info/

http://www.pgranks.com

http://www.ydetector.com

Nhiệm vụ của bạn đơn giản chỉ là nhập Yahoo ID chính xác vào ô textbox rồi ấn nút Search bên cạnh, kết quả sẽ trả về tức khắc, một số trang không chỉ đưa ra kết quả nêu Status của nick mà còn có cả hình ảnh avatar và đường dẫn tới Profiles của nick đó đi kèm như hình minh họa dưới đây kiểm tra bằng trang http://persiangap.com/

Đôi khi các bạn không kiểm tra được vì có thể trang đó đang bị quá tải do nhiều người dùng quá. Lúc đó, các bạn hãy thử các trang web khác trong liệt kê. Chúc các bạn thành công!

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2009

Tut reg phone out skype cho nhưng ai chưa biết

Tut reg phone out skype cho nhưng ai chưa biết

Mình thấy anh em nói chỉ reg được 10$ hay 10 euro thôi nhưng Gà có thể reg được 30$, 30 bảng, 30 euro.

Hôm nay Gà sẽ hướng dẫn thật tỉ mỉ để newbie anh em cùng reg Gà như mình còn reg được thì chắc chắn rằng anh em ai cũng reg được.

Sau đây là những chú ý khi xài skype không bị block.
1. Thứ nhất nghiêm cấm không chạy bằng IP việt nam, chạy IP US, EU, mĩ latinh đều được.
2. Nghiêm cấm trong 24 h không đựoc login vào 2 account trên cùng 1 PC, laptop vì skype nó check key win. Ta vẫn có thể log 2 acc được nếu chúng ta change key win,
Còn 1 chú ý nữa là có thể dùng pri sock, VNP… lưu ý là nếu máy không cài phần mêm đóng băng thì cũng rất dẽ bị block acc còn tại sao thì lát Gà sẽ nói rõ hơn.
Còn nữa phải nói kỹ cái này nữa anh em thật chú ý không được login vô 2 account trong vòng 24h với cùng 1 PC

Sau đây là các bước tiến hành.

Đầu tiên các bạn download bản setup ở skype.com, down bằng IP việt nam nha. Sau đó kiếm 1 con sock5 good nói chung là sock5 rồi fake ip toàn máy với proxifier cái này anh em chắc hiểu. Tiếp đó chúng ta tiến hành chạy bản setup. Nhớ là phải fake ip trước khi chạy bản setup nha! Không thì là công cốc, công cò đó anh em. sau khi chạy bản setup chung ta tiến hành dăng ký nói chung là user và pass do anh em chọn city thì lấy city của chủ thẻ.

Sau khi đăng ký thành công anh em ta vào phân account rồi chọn buy credit rồi làm các bước như ở đó họ hướng dẫn. Lưu ý anh em có thể chọn hình thức là USD, Euro, bảng anh… chỉ có 10$, 10 euro, 10 bảng

Sau khi buy xong anh em login vô account ở site skype.com để active thì account sẽ không bị block.

Làm thế nào để mua được account 20$, 30$… thì rất đơn giản nếu anh em đã mua được 10$, 10 Euro, 10 bảng rồi thì rất đơn giản anh em chỉ thực hiện lại thao tác như gà nói ban đầu là vào phần account chọn buy credit tiếp nó sẽ cho pay 10$, 10 euro.. tiếp cứ như vậy làm tiếp lần thứ 3. Mình Gà chỉ buy được 30$, 30 bảng… thui ai pro buy được hơn thì Share cho anh em.

Còn 1 cách nữa buy 20, 30 $.. là sau khi anh em đã buy được 10$, 10 euro rồi thì anh em login account vào site
https://secure.skype.com/account/login?message=login_required
Rồi chọn buy credit và làm tương tự như cách gà nói ở trên!

Còn loại cvv mà dễ qua skype nhất là master gà dung master không trượt em nào cả. Còn block thì cũng chưa thấy bao giờ chỉ khi nào chúng ta vi phạm các điều mà Gà đã lưu ý với anh em thi mới bị block thôi!

Sori vì net chỗ làm của Gà chậm quá không down được bản setup mà cái USB của Gà lại không tìm thấy nên ko có bản setup săn, gà không lam từng bước và chụp hình từng bước gà làm. Nhưng gà đã nói hết sức tỉ mỉ khi nào có time Gà sẽ làm từng bước và chụp hình cho anh em cẩn thận rồi chắc là anh em sẽ làm ok thôi!

Còn 1 lưu ý nữa là nếu mà các bạn đã reg được 1 account và buy thành công vói PC hay lap của bạn thì cũng đừng có tham mà reg thêm 1 cái account khác nữa sẽ block luôn đó. Muốn reg thì phải change key win hoặc đợi 24h sau nha! Anh em phải nhớ những điều mà gà đã dận không là phí cvv và sock đó!
Tại Sao máy không cài phần mềm đóng băng thì dễ bị block account chắc nhiều anh em đã hiểu nhưng gà vẫn phải nói vì nếu không cài thì khi anh em mở PC ỏ lap cái bản setup mà anh em cài nó vẫn còn nên viẹc block là hiển nhiên. IP việt mà. Chính vì vậy gà mong anh em cài phần mềm đóng băng còn bản setup thì anh em nên để o USB mỗi lần cần thì đem ra cài lại chỉ mất khoảng 1 phút thôi, như vậy thì anh em gọi thoải con gà mái chẳng bao giờ bị block cả!

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2009

10 câu nói bất hủ của Bill Gates !!!

1. “Cuộc sống vốn không công bằng - Hãy tập quen dần với điều đó.”

-> Thế giới không bao giờ công bằng. Bạn biết điều này chứ? Bạn không bao giờ có thể thay đổi cả thế giới. Sự bất công luôn tồn tại trong xã hội hiện tại, vì thế hãy cố gắng thích nghi.

2. “Không ai quan tâm đến lòng tự trọng của bạn đâu. Mọi người chỉ trông đợi bạn đạt được điều gì đó trước khi bạn cảm thấy hài lòng về bản thân.”
-> Lòng tự trọng thái quá có thể sẽ gây khó khăn cho công việc của bạn. Đừng quá đề cao lòng tự trọng của mình vì điều người ta quan tâm là bạn đạt được gì, chứ không phải là lòng tự trọng.

3. “Bạn sẽ không thể kiếm được 40.000 USD/năm ngay sau khi tốt nghiệp trung học. Bạn cũng không là một ông sếp lớn có điện thoại gắn trên ô tô cho đến khi bạn kiếm được hai thứ đó.”
-> Thường thường, bạn không thể giàu có nếu chỉ vừa mới tốt nghiệp trung học. Tuy nhiên, để trở thành một nhà quản lý cấp cao, bạn cần có cả hai: bằng tốt nghiệp trung học và tiền bạc.

4. “Nếu bạn nghĩ rằng giáo viên của mình thật hắc ám thì hãy đợi đến khi bạn làm việc dưới trướng một ông chủ. Rồi bạn sẽ thấy với ông ta thì không có khái niệm nhiệm kỳ nắm quyền.”
-> Đừng than vãn rằng sếp của bạn khó tính quá. Khi ngồi trên ghế nhà trường, lúc gặp khó khăn trong học tập thì có giáo viên giúp đỡ bạn. Tuy nhiên, nếu lúc đó bạn lại cảm thấy mọi khó khăn bạn gặp phải đều do những yêu cầu quá nghiêm khắc từ phía giáo viên, thì bạn đừng nên đi làm. Đơn giản là vì nếu không có những yêu cầu nghiêm khắc từ phía công ty, thì chắc chắn bạn sẽ không làm gì và nhanh chóng thất nghiệp. Và lúc này cũng sẽ không có ai giúp đỡ bạn cả.

5. “Nếu như bạn làm rối tung mọi chuyện lên thì đó không phải lỗi của bố mẹ bạn, thế nên đừng có mà ta thán về lỗi lầm của bạn, hãy rút kinh nghiệm từ chúng.”
-> Đừng quy thất bại của bạn cho định mệnh. Tất cả những gì bạn cần hiện giờ là giữ bình tĩnh và bắt đầu lại từ đầu.

6. “Trước khi bạn ra đời, bố mẹ của bạn đã chẳng "đáng chán" như bây giờ. Bố mẹ đã trả những hoá đơn của bạn, giặt giũ quần áo bạn sạch sẽ và lắng nghe bạn kể xem bạn sành điệu như thế nào. Vì vậy trước khi cằn nhằn bố mẹ điều gì thì hãy dọn dẹp buồng ngủ của bạn cho ngăn nắp đi đã.”
-> Bạn nên thể hiện lòng biết ơn của mình với bố mẹ vì đã dành phần lớn cuộc đời nuôi bạn khôn lớn. Sự “cổ lổ sĩ” của bố mẹ bạn ngày nay là cái giá họ phải trả cho sự lớn khôn của bạn.

7. “Ở trường học có thể không có người thắng kẻ thua nhưng ở trường đời thì không phải vậy. Ở một số trường học người ta còn hủy bỏ những điểm rớt và cho bạn cơ hội để bạn giành điểm cao. Trong cuộc sống thực không bao giờ có chuyện như thế đâu.”
-> Hãy tự nhủ rằng bạn luôn có thể trở thành người đứng đầu, như vậy bạn sẽ có nhiều động lực hơn để phấn đấu cho sự nghiệp của mình.

8. “Cuộc sống không được chia thành những học kỳ. Bạn cũng chẳng có mùa hè để nghỉ ngơi và rất ít ông chủ nào quan tâm và giúp bạn tìm ra cơ hội này. Hãy tự làm điều mình muốn trong thời gian nhàn rỗi của bạn.”
-> Đừng luôn ngóng chờ các ngày nghỉ lễ, nếu không bạn sẽ bị tụt hậu so với đồng nghiệp của mình. Sự tụt hậu này đồng nghĩa với sự đào thải và thất nghiệp.

9. “Truyền hình không phải là cuộc sống thực. Trong cuộc sống, người ta phải biết rời khỏi quán cà phê giải trí để đi làm việc.”
-> Ai cũng thích xem phim truyền hình. Tuy nhiên, bạn không nên xem quá nhiều vì đó không phải là cuộc sống của bạn và tư tưởng của bạn sẽ bị chúng ảnh hưởng. Cuộc sống của bạn nên do bạn quyết định.

10. “Hãy hòa nhã với những kẻ dở hơi. Ai biết được ngày sau và khi đó bạn có thể phải làm việc cho một kẻ như vậy.”
-> Bạn nên hòa nhã với mọi người. Trong cuộc sống luôn xảy ra những điều bạn không muốn chút nào. Hãy cởi mở với sếp và đừng nói xấu sau lưng họ vì nó sẽ chẳng giúp ích gì cho bạn đâu.

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2009

Tìm hiểu về thẻ tín dụng (cc)

Credit Cards hay các thẻ tín dụng đối với đa số người Việt tại hải ngoại không có gì là mới mẻ, đã có nhiều bài viết về vấn đề này rồi nên cũng chỉ lập lại và thêm chút xíu thôi. Mình thấy nguồn lợi tức chính của các ngân hàng không phải là cho các công ty lớn vay muợn hàng trăm triệu dollars để thu lời mà do tiền lời và lệ phí thu được từ các thẻ tín dụng . Nói ra chắc các bạn không tin, nhiều khi ngân hàng thu lời đuợc 100% từ tiền cho vay ở thẻ tín dụng . Ví dụ ngân hàng A cấp cho anh B một thẻ tín dụng với credit line là $500.00 USD và annual fee là $79.00 USD một năm tiền lời là 19.9%/năm nếu anh B xài quá credit line của mình thì tiền lời sẽ là 26.5%/năm và mỗi lần vuợt qua giới hạn ( over limit fee ) sẽ bị phạt $39.00/lần, anh B này trả trễ cũng bị phạt $39.00 USD/lần . Các bạn thử cộng lại sẽ thấy anh B này đã tốn bao nhiêu tiền cho ngân hàng

- Việt Nam trong tưong lai thẻ tín dụng cũng sẽ đưọc phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội, vì vậy chúng ta cũng nên tìm hiểu thêm về vấn đề này . Vivi sẽ tham khảo từng bước với các bạn về thẻ tín dụng:
Trong một giao dịch bán lẻ truyền thống các vạch từ được đọc bởi thiết bị đầu cuối của điểm mua bán . Mã số kiểm tra giá trị sử dụng của Visa card ( CVV ) hay Mastercard ( CVC ) được mã hoá trong các vạch này có thể được người phát hành thẻ kiểm tra trong thời gian còn hiệu lực sử dụng . Tuy nhiên nếu thẻ không còn giá trị sử dụng thì thẻ CVV hay thẻ CVC không còn hợp lệ nữa . Để giảm hiện tượng lừa đảo trong môi trường sử dụng card không hiện hữu ( card ảo ) những người mua hàng ,nhà buôn và người dùng thẻ sử dụng cvv2 hay cvc2 :

- Vậy Cvv2 Hay Cvc 2 Là Gì :

cvv2 hay cvc2 là mã số bảo mật gồm bộ ba kí tự số được in ở mặt sau card , những số này xuất hiện ở dạng nghiêng ngược ở ngay đầu khung chữ kí và ở cuối ( xem mã u ) . Chương trình này giúp hiệu lực hoá một thẻ đang sử dụng trong giao dịch . Tất cả các thẻ Mastercard , cả thẻ tín dụng lẫn thẻ nợ , được cc yêu cầu là phải có chữ a CVC2 trước ngày 1/1/97 còn tất cả các thẻ VISA phải là 1/1/1001

- CVV2 Hay CVC2 Hoạt Động Như Thế Nào :

Các nhà buôn thẻ ảo được hướng dẫn rằng phải yêu cầu người giữ thẻ xuất trình cvv2 /cvc2 khi người giữ thẻ đặt hàng . Nhà buôn yêu cầu người giữ thẻ đọc mã số này từ thẻ . Sau đó nhà buôn yêu cầu kiểm tra cvv2/cvc2 trong quá trình được sử dụng . Người phát hành thẻ xác định tính hợp lệ của cvv2 hay cvc2 và truyền đi kết quả từ chối hay chấp nhận trong quá trình được quyền sử dụng . Nhà buôn bằng cách sử dụng cvv2/cvc2 cùng với dịch vụ kiểm tra địa chỉ ( AVS) và những phút bàn về quyền sử dụng sau đó có thể thực hiện các quyết Ċ ?ịnh có nhiều thông tin hơn đối với việc chập thuận việc giao dịch đó hay không . . Ngoài ra khi sử dụng cvv2/cvc2 các nhà buôn có thể hi vọng giảm được chi phí trả lại ( chargeback) ít nhất là 26%

-Thay đổi đối với khung chữ kí

Trước đây các số cvv2 hay cvc2 đi theo sau số tài khoản 16 số in ở khung chữ kí của thẻ . Số tài khoản 16 số bây giờ đã bị cắt ngắn còn 4 số trên khung chữ kí . Sự thay đổi này giúp người sử dụng thẻ ký thẻ của họ dễ dàng hơn . Nó cũng giúp nhà buôn dễ dàng hơn khi so sánh chữ kí trên thẻ và chữ kí trên phiếu bán hàng . 19 chữ số ( 16 + 3 ) không còn gây cản trở trong việc kiểm tra chữ kí nữa

- Mã Số Kết Quả Là Gì :

+ Định nghĩa :

M : cvv2 khớp nói chung là bạn muốn thúc đẩy các giao dịch mà bạn đã nhận được chứng nhận thẩm quyền sử dụng ( một cvv2 khớp và một thẻ kiểm tra địa chỉ khớp nếu cần )

N : Cvv2 không khớp có lẽ bạn phải tiếp tục làm việc với người sử dụng thẻ trước khi thực hiện giao dich ngay cả khi bạn đã nhận được một chút chứng nhận thẩm quyền sử dụng . Nếu bạn đã nhận được một chút chứng nhận thẩm quyền sử dụng nhưng bạn nghĩ rằng một giá trị cvv2 không có lẽ đã được gửi đi trước bạn có thể gửi trả lại cvv2 nhưng phải chắc chắn rằng đã sử dụng số tiền $ là 0 cho giao dịch đó để đường tín dụng của khách hàng không bị ảnh hưởng bởi một cvv2 thứ 2 nữa

P : Yêu cầu cvv2 không được thực hiện hoặc ngày hết hạn không được cung cấp , hoặc card không có giá trị cvv2 . Nếu ngày hết hạn để trống hãy nộp lại như là số tiền $ = 0 cho giao dịch đó để đường tín dụng của khách hàng không bị ảnh hưởng bởi một cvv2 thứ 2 nữa

S: Cvv2 có trên card nhưng nhà buôn gửi một mã số nói rằng không có cvv2 . Có lẽ bạn phải làm việc lại tiếp tục với khách hàng để kiểm tra lại rằng khách hàng đã kiểm tra vị trí chính xác đối với số cvv2

U: Người phát hàng không ủng hộ Cvv2

Link Address Verification Service ( AVS )

Atlantic Payment - Dịch vụ kiểm tra địa chỉ : Nếu bạn là nhà buôn dùng thẻ tín dụng , bạn có thể so sánh địa chỉ chi trả của khách hàng USA tại ngân hàng phát hành trước khi hoàn thành một giao dịch mà vạch từ không thể đọc đuợc . Quá trình kiểm tra này yêu cầu cần thiết nếu bạn là nhà buôn dùng thư tín , internet , thư tín hay điện thoại ...

Khi yêu cầu kiểm tra tín dụng thông thường hay uỷ quyền sử dụng bạn phải nhập thông tin địa chỉ chi trả do người sử dụng card cung cấp , khi hệ thống máy tính tiếp xúc với người phát hành và yêu cầu chứng nhận tín dụng , thì thông tin địa chỉ được so sánh vói thông tin trên hồ sơ tại nơi người phát hành . Người phát hành sẽ gửi một mã số phúc đáp với một phúc đáp về thẩm quyền sử dụng tín dụng . Bạn sẽ thực hiện các quyết định kinh doanh sử dụng sau khi xử lý các phúc đáp khác nhau . Tuy nhiên bạn phải luôn nhớ rằng khi một khách hàng cáo buộc rằng họ không hề gửi một đơn đặt hàng bằng mail , điện thoại hay inernet với bạn thì AVS " khớp chính xác " X"hay " Y " sẽ giúp bạn bác bỏ cáo buỊ ?c đó . Và hãy nhớ rằng rất nhiều thiết bị xử lý () sẽ không xử lý các giao dịch mua bán với mã số phúc đáp " N" . Hãy tiến hành một cách thận trọng
Có rất nhiều bạn khi nhìn thấy CC được post lên lại hỏi những câu đại loại như :

- Cái đống trên đây là gì thế , sử dụng như thế nào ?

- Cái Name on Card đâu ... Address ở chỗ nào ?



THÔNG TIN VỀ CARD

Một cái CC hợp lệ phải bao gồm đầy đủ các yếu tố sau :

+ Name on Card hay Card holder : Họ tên chủ thẻ .

+ Billing or Mailing Address : Địa chỉ .

+ City : Thành phố .

+ State : Bang ( của Mẽo và Canada ) .

+ Zip COde ( Post code ) : Mã vùng .

+ Card number : Số thẻ .

+ Card Exp date : ngày hết hạn của thẻ .



và có thể có vài thành phần khác như :

+ Phone number : Số phone ( 11 số ) .

+ Fax Number : Số Fax ( 11 số ) .



hay nhất là khi CC của bạn có cái này :

+CVV2 hay CVN : cái này là mã số bảo mật in trên CC .



KINH NGHIỆM



Không có gì hơn là phải dùng nhiều , nhìn nhiều rồi sẽ quen thôi

-----Sẽ dễ dàng hơn nếu bạn có một vốn tiếng Anh kha khá-----



+ Một đống như sau :



VISA Brett Crow 4300230019306705 11/03 Brett Crow 7 Spruce Street Esko, Minnesota 55733 (XXX)-XXX-XXXX XXX



- Các bạn nhìn cái nào có vẻ là tên người thì nó là Name đấy ( Đừng có cười ! Sự thật đấy ) . Thông thường thì name nằm ở đầu hoặc ngay sau cái Exp date . Như ở đây nó là Brett Crow .

- VISA là nói đây là một cái VISA .

- Một chuỗi 16 con số bắt đầu = 3,4,5 hoặc 6 tùy loại card là CC number . ở đây là 4300230019306705

- Một cụm có cấu tạo theo dạng : AB/CD hay 4 số liên tiếp ABCD là Exp date . thường Exp nằm ở ngay sau CC Number . Ở đây là 11/03 Tức là tháng 11 năm 2003 .

- Sau tên hoặc Exp date sẽ là Address ! Có cấu trúc dạng : [Số] [ Chữ ] ...... thường hay kết thúc = street, driver, Dr, .... thường thôi nhé chứ không phải là tất cả đâu . Đặc biệt có một số địa chỉ có dạng P.O Box [........] đây là hộp thư lưu trú đăng ký ở bưu điện ! Ở đây address là : 7 Spruce Street .

- Zipcode ( Post code ) : Một chuỗi có 5 số ( Mẽo Only ) nhưng nhiều khi lại có ngoại lệ . ở đây zip là 55733 .

- State : Có thể Viết tắt ( 2 chữ cái viết hoa ) hoặc viết full . Dùng nhiều sẽ thuộc State ( Bọn mẽo có bao nhiu bang ý, quên mất roài ) . State thường đứng ngay sau City và đứng ngay trước Zip ! Ở dống này là Minnesota .

- City : không có gì đặc biệt ngoài việc nó đứng sau Address và trước state .

- Phone : Một dãy 11 số có cấu trúc dạng : (XXX)-XXX-XXXX hay XXX-XXXXXXX ...... XXXXXXXXXX . Phone thường đứng sau Zip. Nếu liền cạnh Phone có một dãy cấu trúc tương tự thì đó là số Fax .

- Đống này không có Phone nhưng bạn có thể tìm thấy Phone = 1 cách rất đơn giản : sang một search engine (máy tìm kiếm ) bất kỳ ví dụ như là http://www.google.com/ hay http://www.av.com/ nhập Zip của bạn vào trường search rồi tìm ! Kết quả sẽ là rất nhiều địa chỉ trong đó có số phone thuộc thành phố có Zip code giống bạn ! ! Dễ dàng thế thôi !

- CVV2 : Nếu CC Number của bạn có đầu 4 hay 5 thì CVV sẽ có 3 số . Còn nếu đầu 3 hay 6 thì sẽ có 4 số ! CVV2 nằm ở cuối cùng của đống . ! Ở đây không có Cvv2 thực mình dùng tạm XXX !










1- Thẻ tín dụng là gì ?

2- Có bao nhiêu loại thẻ tín dụng ?

3- Ai có thể xin thẻ tín dụng và làm sao để xin ?

4- Xin thì dễ mà giữ cho tốt mới là khó !

5- Trả không nổi nợ thẻ tín dụng thì sao ?

6- Làm sao để làm tốt lại tín dụng xấu ?

7- Những điều nên biết về credit score


8- Thẻ tín dụng manh laị những lơị ích gì ?



Đây là một tài liệu rất hữu ít cho bất cứ ai đang sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới . Vì thẻ tín dụng và tín dụng đang được xử dụng rộng rãi , và trong tương lai sẽ thay thế hẳn tiền mặt

I - Thẻ Tín Dụng Là Gì ?

1 - Lịch sử thẻ tín dụng:

Khoảng hơn 3000 năm trước đây, do nhu cầu trao đổi hàng hoá đòi hỏi và để cho sự buôn bán của các doanh thương thời đó tiện lợi hơn, nên tín dụng đã lần đầu tiên được xử dụng tại Assyria, Babylon và Egypt, mãi tới đầu thế kỷ 14 ngân phiếu tiền trang ( Bill of exchange) và chi phiếu ( forerunner of banknotes, mới được mới được hình thành, các món nợ và thanh toán hoá đơn được giải quyết bằng cách trả trước 1/3 tiền mặt ( coins ) phần còn lại bằng Bill of exchange . Cho đến thế kỷ 17th sự phát minh ra tiền giấy , thì việc mua bán và trao đổi mới dễ dàng hơn nhiều.

Năm 1730 ông Christopher Thornton , doanh thương về bàn tủ ( furniture ) đã quảng cáo và đưa ra chương trình mua trả góp đầu tiên trong lịch sử thương mại của loài người . Từ thế kỷ 18th tới đầu thế kỷ 20th . Những người Tallymen bán trang phục cho khách hàng băng cách trả góp hàng tuần. Họ được gọi là Tallymen vì hồ sơ trả tiền của khách đuợc lưu giữ và tính toán trên một miếng gỗ ( wooden stick ) tiền nợ được ghi trên một đầu và tiền trả hàng tuần được khắc trên đầu kia . Chương trình mua trả góp " Buy now, pay later " mãi tới năm 1920 mới được giới thiệu tới Hoa Kỳ, dịch vụ này vẫn còn giới hạn ở từng cửa hàng.

Con người theo sự tiến hoá ,vì nhu cầu tiện ích đòi hỏi đã phát minh ra tiền cắc ( coins ) tiền giấy, ngân phiếu, chi phiếu, và cũng do nhu cầu đòi hỏi nên , khoảng năm 1951 ông Frank X. McNamara ( vị tổ khai sinh ra thẻ tín dụng ) dã thành lập công ty đầu tiên phát hành thẻ tín dụng, 200 chiếc thẻ Credit Card đầu tiên đã cấp cho những người giàu có và có tiếng tăm trong xã hội tại New York và những chiếc thẻ này chỉ được xử dụng hạn chế trong 27 nhà hàng sang trọng ở New York lúc bấy giờ nên có tên gọi là Diners Club Công ty American Express cũng theo gót Diners Club cho ra đời chiếc thẻ American Express , vì sự hạn chế chỉ để xử dụng trong việc ăn uống , du lịch nên loại thẻ này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp xã hội và chưa được xem như là chiếc thẻ thần kỳ ( the Magic Card ) . Song song với sự ra đời của 2 thẻ này các công ty bán lẻ, xăng dầu cũng cho ra đời một loại thẻ gọi là Charge Card cũng còn giới hạn là laọi này chỉ xài được ở công ty cấp thẻ này thôi . Như thẻ Sears thì chỉ mua hàng ở Sears , Shell thì chỉ đổ xăng ở các cây xăng Shell v.v., . Vậy thì chiếc thẻ thần kỳ đuợc phát minh lúc nào ?.


- Trong thời kỳ Đệ II thế chiến Tất cả các credit card và Charge card đã cấm sử dụng, cho đến sau thế chiến thì mới được phổ biến rộng rãi trở lại . Vì lợi tức mang lại từ thẻ tín dụng khá nhiều nên các ngân hàng bắt đầu nhúng tay vào . Tuy nhiên vẫn còn xử dụng tại địa phương và các cửa hàng bán lẻ . Cho đến năm 1970 , khi mà kỹ thuật điện toán bắt đầu phát triển và hệ thống căn bản cho " The Standards for Magnetic Strip " được hình thành , thì kỹ nghệ Credit card mới thực sự phát triển mạnh mẽ và trở nên một phần của thời kỳ Thông Tin " Information Age "

Chiếc thẻ Thần Kỳ " Revolving Credit Card " lần đầu tiên cấp cho người xử dụng tại tiểu bang California do Bank of America phát hành nên gọi là BankAmericard và nhanh chóng phổ biển rộng rãi khắp tiểu bang . Cái thẻ thần kỳ này đã bắt đầu một bước tiến quan trong cho kỹ nghệ credit card . Thẻ BankAmericard đã cho người xử dụng 1 sự lựa chọn trong việc thanh toán tiền bạc . Họ có thể trả hết 1 lần hoặc trả góp từng tháng ( minimum payment) số tiền thiếu còn lại , ngân hàng sẽ bắt đầu tính tiền lời . Phương pháp này đưọc tiếp dùng cho đến ngày nay .Thẻ này còn thêm một ưu điểm mà ai cũng thích là nếu kẹt tiền , người xử dụng ( cardholder) có thể ra ngân hàng mượn tiền mà không cần phải điền những thủ tục mượn tiền phiền toái ( nhanh, gọn, lẹ ).

Vì sự tiện lợi của thẻ này và nhu cầu đòi hỏi của khách hàng, Bank Card Association được thành hình , vào năm 1965 Bank of America đã cấp giấy phép ( Licensing ) cho những ngân hàng lớn , nhỏ khắp Hoa Kỳ , cho phép những ngân hàng này cấp thẻ BankAmericard cho khách hàng xử dụng ( đương nhiên phải trả tiền cho Bank of America ). Tới năm 1969 hầu hết các thẻ tín dụng do những ngân hàng độc lập cấp đều chuyển qua loại thẻ BankAmericard hoặc MasterCharge Card . Cho nên có thể nói Bank of America là vị tổ khai sinh ra cái thẻ thần kỳ này và lợi tức mang lại từ những chiếc thẻ này đã góp phần không nhỏ đưa Bank of America từ một ngân hàng địa phương ( local bank) thành 1 trong những ngân hàng lớn nhất thế giới .

Thẻ tín dụng cấp phát ngày càng nhiều, công việc xử lý hoá đơn cho từng trương mục ( account)nhiều đến nổi các hệ thống ngân hàng không đảm đương nổi và từ đó dẫn đến sự ra đời của các hội thể tín dụng ( Credit card associations ) như Interlink Association, Western State Bank Card Association, và National BankAmericard Ịnc,. Trong khoảng thời gian này các hoa đơn chưa được điện tử hoá , vẫn còn dùng các loại hoá đơn bằng giấy ( 1 người khách mua hàng hay cash tiền , người thâu ngân phải gọi điện thoại để xin thanh toán hoá đơn (approve charge)sau khi ngân hàng cấp thẻ ( Issue Bank ) đồng ý trả tiền thì sẽ cho người nhận (merchant) 1 số ( authorization number )rồi người nhận lấy 1 hoá đơn ( gồm 3 copy)đặt credit card và hoá đơn này lên một cái máy ( Imprinter) cà qua cà lại ( slide)vài lần để những con số trên thẻ in xuống hoá đơn, sau đó điền số bằng lái, số phone và chữ ký của người chủ thẻ ( cardholder) . 1 bản giao cho người khách, 1 bản deposit vào ngân hàng và 1 bản người nhận giữ .Người Việt chúng ta thường nói đùa mỗi khi trả tiền bằng thẻ là Cà thẻ ( Chi tiết sẽ nói trong bài " Hóws the banking system work ). Chỉ một transaction thôi đã mất nhiều thì giờ mhư vậy, các bạn thử nghĩ mỗi ngày ngân hàng xử lý cả trăm triệu transaction thì mất bao nhiêu thời gian . Đây cũng là dịp để những người " cho tôi ăn ké với" có cơ hội kiếm ăn Credit card fraud ( sẽ nói riêng về phần này )

Như đã nói ở trên, mãi tới năm 1970 sự ra đời của máy điện toán ( IBM computer nó to như cái xe bò)thì kỹ nghệ credit card mới rẻ qua 1 con đường thêng thang rộng mở . Cho phép người nhận thẻ ( retail establishment or merchant) nhận trả bằng thẻ 24 giờ/ 1 ngày và cũng giảm một số lượng giấy tờ đáng kể .

Khoảng giữa thập niên 70 kỹ nghệ credit card mon men tìm kiếm khách hàng trên thị trường quốc tế, nhưng gặp vài trở ngại vì chữ America cho nên BankAmericard đổi thành Visa và Master Charge vì trong 1 vụ kiện đã đổi thành Master Card

Khoảng năm 1979 nhờ sự tiến bộ trong ngành điện tử và điện toán cá nhân ( electronic & PC personal computer ) kỹ nghệ credit card lại tiến thêm 1 bước quan trọng nữa . Sự tiến bộ này đã cho phép người nhận thẻ " chà " swipe thẻ của khách hàng qua máy ( dialup terminal) và mọi thủ tục được điện tử hoá ( electronic processing ) nên đã tiết kiệm được rất nhiều thì giờ và tiền bạc đồng thời cũng nảy sinh ra kỹ nghệ tái chế giấy cũ ( paper recycle )vài người Việt cũng làm giàu nhờ kỹ nghệ tái chế này ( recycling industry )
Bảo mật với Online Banking



TTO - Bắt đầu sử dụng từ những năm 1990, thanh toán trực tuyến (Online Banking) là cốt lõi đối với thương mại điện tử. Tuy vậy việc quản trị và bảo mật tài khoản vẫn không thể ngăn được những thất thoát đáng tiếc, nhất là trong tình trạng tội phạm tài chính Internet đang ngày một nở rộ như hiện nay.

An ninh tài chính mạng vẫn luôn là một thách thức đối với bất kỳ ngân hàng nào.

Có thể ngồi tại Việt Nam, đặt mua một món quà cho người thân đang ở Pháp. Hóa đơn điện nước, điện thoại có thể tự động định kỳ thanh toán. Bạn đặt mua một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ trên Internet và chiếc đồng được đem đến tận nhà bạn tại Anh. Hơn 53 triệu người Mỹ đã và đang làm quen dần với hình thức này.

Một hệ thống Online Banking thường bao gồm luôn cả chức năng ngân hàng dành cho người dùng. Khách hàng có thể truy xuất tài khoản để biết thông tin, thực hiện các tác vụ mua bán và chuyển nhượng tài chính. Đơn giản, chỉ cần truy xuất vào tài khoản thông qua Internet, vừa nhanh chóng vừa tiện lợi và chính xác.

Một nghiên cứu kéo dài 18 tháng của Bank of American cũng cho thấy, khách hàng sử dụng dịch vụ trực tuyến có xu thế “trung thành” hơn. Hơn nữa, Online Banking hiện là một dịch vụ miễn phí. Sự tiện dụng, kinh tế chính là ưu điểm của loại hình thanh toán này.


Biểu đồ so sánh tình hình sử dụng các giải pháp an ninh ngân hàng trực tuyến tại châu Âu
Thực trạng an ninh

Những báo cáo gần đây về tình trạng vi phạm, phá rào và lừa gạt để lấy thông tin trong lĩnh vực tài chính làm cho khách hàng e ngại các hoạt động chuyển nhượng tài chính trực tuyến. Các hành động lừa đảo trên Internet dễ thực hiện, ít nguy hiểm và ít tốn kém hơn.

Từ những nghiên cứu mới nhất của Javelin và Pew Report cho thấy, phần lớn các lỗi không phải về phía ngân hàng mà về phía khách hàng. Chỉ tính riêng trong việc bị mất cắp thông tin tài khoản, thì các nguyên nhân ngoại tuyến chiếm 68%, bao gồm cả việc mất ví, sổ tay và thư tín dụng. Tỷ lệ lừa gạt trực tuyến chỉ chiếm có 11,6%.

5% người Mỹ là nạn nhân của các cuộc tấn công tài chính trên mạng, bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp với con số tổn thất khoảng 53 tỷ USD hàng năm.

Thế nhưng, khách hàng có điều kiện theo dõi thường xuyên tài khoản của mình cũng là một cách hay để hạn chế mất tiền. Vì tài khoản được theo dõi thường xuyên hơn, số lượng tiền nếu có bị thất thoát cũng rất ít. Khả năng phát hiện sớm những cuộc đánh cắp sẽ hạn chế số lượng tiền bị thất thoát.

Những khách hàng không sử dụng Online banking có xác suất mất thông tin tài khoản cao hơn vì họ để lại nhiều dấu vết vật lý như sổ tay, hóa đơn chứng từ, tạo điều kiện cho kẻ cắp biết được thông tin tài chính của mình.

Chứng thực đa cấp

Chế độ chứng thực đa cấp đang được xem xét để thay cho chế độ đơn cấp hiện nay, nhằm giải quyết một trong các vấn nạn an ninh tài chính. Ở chế độ đơn cấp, bạn chỉ cần có mật mã là đủ. Điều đó rất dễ dàng bị người khác ăn cắp mà ngay đến bạn cũng không hề biết.

Tuy nhiên, với chế độ đa cấp thì thường mật mã phải được kết hợp với một dạng thông tin "không thể bị đánh cắp", có thể là một câu hỏi mang tính cá nhân kết hợp với câu trả lời... Đây là cách thức được dùng bởi Bank of Americans, với chương trình SiteKey.

Một cách khác là dùng các hệ chìa khóa. Đó có thể là một thiết bị giải mã đặt tại máy tính cá nhân, có chìa khóa và chỉ hoạt động với số PIN của riêng mỗi người. Sẽ dễ dàng hơn cho chủ nhân để phát hiện ra chìa khóa bị mất thay vì một mớ ký tự trong đầu.

Sinh trắc học cũng đang là một trong những giải pháp được hướng đến kết hợp với trong chế độ chứng thực đa cấp. Đây được xem là một trong những giải pháp của tương lai. Hiện cũng có một số công ty đã bắt đầu sản xuất bàn phím sinh trắc học để dành cho các tác vụ chứng thực. Tuy nhiên, giá còn hơi cao.

Giải quyết về chế độ chứng thực chỉ là một trong những giải pháp nhằm tạo một môi trường an toàn hơn cho Online Banking. Không thể có một môi trường nào là tuyệt đối an toàn cả.

Căn bản về Credit Card


Một Number Card thường gồm có 16 chữ số, có loại có 13 chữ số.

Trong đó, 4 chữ số đầu tiên thường quy định và là dấu hiệu nhận dạng bởi các tên của ngân hàng phát hành Card đó

3xxx xxxx xxxx xxxx: Ameriacan Express Card

4xxx xxxx xxxx xxxx: Visa Card

5xxx xxxx xxxx xxxx: Master Card

6xxx xxxx xxxx xxxx: Discover Card


Chữ số đầu tiên thường được dùng để nhận biết đó là Card của loại nào.

3 = Ame

4 = Visa

5 = Master

6 = Discover

3 chữ số tiếp theo sau là tên nhận dạng ID của ngân hàng.

Nói chung, khi ta nhìn vào 4 ký tự số đầu tiên ta sẽ biết đó là thể loại nào: American Express Card, Visa Card, Master Card hay Discover Card.

AMERICAN EXPRESS

3XXX

3728

3713

3731 - AmEx Green

3737 - AmEx Optima

3782 - AmEx - Small Corporate Card

....



VISA CARD

4XXX

4013 - Citibank

4019 - Bank of America

4024 - Bank of America

4027 - Rockwell Federal Credit Union

4032 - Household Bank

....

MASTER CARD

5XXX

5100 - Western States Bankcard Association

5110 - Universal Travel Voucher

5120 - Western States Bankcard Association

5130 - Eurocard France

....

DISCOVER CARD

6XXX

6013 - MBNA

....

Làm sao để kiểm tra số Card là đúng. Nhờ đâu mà các chương trình kiểm tra Card có thể biết được đó là số đúng của Card.
Câu trả lời đó là tất cả đều phụ thuộc vào con số cuối cùng của Card. Đó là con số mà những chương trình gọi là số tổng kiểm tra (checksum), con số này sẽ quyết định dãy số của Card là số đúng hay sai.

Nếu con số cuối cùng là đúng và phù hợp thì nó là một dãy số Number Card đúng, chúng ta có thể dùng nó.
Nếu số đó là một con số sai thì coi như Number Card đó sai.

Tuy nhiên, nếu chúng ta thông minh và để ý một chút thì ta vẫn có thể tìm được một Number Card đúng sau 9 lần thử khác nhau. Vì ta có thể thay đổi con số cuối cùng thành 1 trong 9 lựa chọn khác:
Ví dụ: 3xxx xxxx xxxx xxx5 : dãy số đúng ta cần tìm.
Ta lần lượt thay con số cuối cùng như sau:
3xxx xxxx xxxx xxx0
3xxx xxxx xxxx xxx1
3xxx xxxx xxxx xxx2
3xxx xxxx xxxx xxx3
3xxx xxxx xxxx xxx4
3xxx xxxx xxxx xxx5 ===> đây là kết quả đúng và con số 5 là số cần tìm.
3xxx xxxx xxxx xxx6
3xxx xxxx xxxx xxx7
3xxx xxxx xxxx xxx8
3xxx xxxx xxxx xxx9

Như vậy tới đây là tạm thời có thể hiểu cách tìm (tính toán) sao cho có một Number Card đúng.
Đây là cách tính thủ công, cách tính “mẹo”. Quá dễ phảI không các bạn.

Như vậy các bạn chỉ cần biết 4 con số đầu tiên để làm “gốc”, 4 con số này để chương trình biết nó là Master Card hay Visa Card … và đó chính là tên của ngân hàng. Sau đó các bạn có thể tự bịa ra 1 dãy số bất kỳ nào đó.
Thay đổi con số “cuối cùng” trong khoảng từ 0..9 để tìm ra con số đúng nhất và như vậy bạn đã có 1 Number Card hợp lệ.


Cách tính toán và tìm ra quy luật của Number Card.
Như đã nói ở trên, chúng ta chỉ cần biết 4 con số đầu tiên mà thôi. Đó là 4 con số quy định tên ID của ngân hàng. Chúng ta chỉ cần biết 4 con số đó là có thể tự tạo ra cho mình một số lượng Number Card dùng thoải mái cho đến ngày vào Prison chơi
Sau đây tôi sẽ cùng các bạn đi tìm cách tính toán một cách khoa học và chính xác hơn chứ không phảI ngồi mò mò, rồi phảI thay đổi con số cuối cho phù hợp.

Ví dụ: 5204 xxxx xxxx xxxY
5204 = Security Pacific : đây là Master Card do ngân hàng Security Pacific phát hành.
xxxx xxxx xxx: là một dãy số ngẫu nhiên, bất kỳ nào đó.
Y : đây là con số cần tìm để Number Card là hợp lệ

Sau khi biết 4 số đầu tiên, ta có thể lấy ngẫu nhiên và bất kỳ từ số 0 đến số 9 của mười một ký tự số đại diện cho chữ X.

Giả sử tôi lấy là
5204 1234 5678 901Y
5204 xxxx xxxx xxxY

Trong đó ta chia ra làm 2 dãy số chẵn và dãy số lẽ.
a. Dãy số 5 0 1 3 5 7 9 1 ta gọi là dãy số lẽ.
b. Dãy số 2 4 2 4 6 8 0 Y ta gọi là dãy số chẫn.

Lấy từng chữ số trong dãy số lẽ “nhân” vớI 2
5 x 2 = 10
0 x 2 = 0
1 x 2 = 2
3 x 2 = 6
5 x 2 = 10
7 x 2 = 14
9 x 2 = 18
1 x 2 = 2

Nếu kết quả nhân của từng số nào lớn hơn 9, thì ta lấy số đó trừ đi 9.
5 x 2 = 10 - 9 = 1
0 x 2 = 0 = 0
1 x 2 = 2 = 2
3 x 2 = 6 = 6
5 x 2 = 10 = 1
7 x 2 = 14 - 9 = 5
9 x 2 = 18 - 9 = 9
1 x 2 = 2 = 2

Cộng các kết quả mớI tình được lai vớI nhau:
1 + 0 + 2 + 6 + 1 + 5 + 9 + 2 = 26 ===èSố A

Cộng các chữ số của dãy số chẵn lại vớI nhau, vì Y là số cần tìm và ta chưa biết nên không cần cộng
Dãy số 2 4 2 4 6 8 0 Y là dãy số chẵn đã nói ở trên
2 + 4 + 2 + 4 + 6 + 8 + 0 = 26 ===è Số B

Lấy A + B
26 + 26 = 52
TớI đây ta lấy số cuối cùng là 2 cộng thêm 8 để làm tròn số thành 10
Ví dụ:
+ số cuối cùng là 3 thì cộng thêm 7 để thành 10
+ số cuối cùng là 4 thì cộng thêm 6 để thành 10
+ số cuối cùng là 5 thì cộng thêm 5 để thành 10
+ số cuối cùng là 6 thì cộng thêm 4 để thành 10
+ số cuối cùng là 7 thì cộng thêm 3 để thành 10
+ số cuối cùng là 8 thì cộng thêm 2 để thành 10
+ số cuối cùng là 9 thì cộng thêm 1 để thành 10
+ số cuối cùng là 0 thì cộng thêm 0 để thành 0 =è chú ý chỗ này
+ số cuối cùng là 1 thì cộng thêm 9 để thành 10

Nói chung là cộng thêm số nào đó để nó thành số chẵn là 10
Vậy cái số bí mật cần tìm chính là con số được cộng thêm vào.
Trong ví dụ này, đó chính là con số 8.
Vậy số Y cần tìm là 8
Số Number Card là 5204 1234 5678 9018

Ngay 12/04/2016

Cuộc sống không dễ dàng, nhất là khi bạn lên kế hoạch đạt được điều gì đó có giá trị. Đừng chọn con đường đi dễ dàng. Hãy làm điều gì đó phi...